Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

Tình cha con trong bài thơ "Nói với con"

PHÂN TÍCH TÌNH CHA CON TRONG BÀI THƠ NÓI VỚI CON, NGỮ VĂN 9, TẬP II


Thơ Y Phương hồn nhiên mà trong sáng, chân thật mà mạnh mẽ  như một bức tranh thổ cảm đan dệt những sắc màu phong phú và đa dạng, nhưng trong đó luôn có một  màu sắc chủ đạo, là bản  sắc dân tộc đậm nét và độc đáo. Nói với con là một bài thơ hay của nhà thơ. Bài thơ như là một khúc tâm tình của người cha, thể hiện lòng yêu thương con của người miền núi và mong ước thế hệ con cái phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương.
Xưa nay, tình cha con luôn là một tình cảm thiêng liêng cao đẹp. Yêu thương con, người cha luôn có rất nhiều điều muốn nói với con. Trong bài thơ, điều đầu tiên người cha muốn nhắc nhở con của mình, đó là cội nguồn hạnh phúc của con người chính là gia đình, quê hương. Ngay từ bốn câu thơ đầu, tác giả đã gợi ra một hình ảnh gia đình đầm ấm hạnh phúc. Người con chập chững bước từng bước đi trong mái ấm gia đình ấy. Cách  liệt kê “chân phải”, “chân trái”, “một  bước”, “hai bước” khiến ta hình dung những bước đi của đứa con nhỏ. Cả ngôi nhà rung lên những tiếng cười của cha, của mẹ, của con... Rồi người con khôn lớn trưởng thành dần trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và trong nghĩa tình sâu nặng của quê hương. Tác giả đã có cách gọi độc đáo về những con người quê hương, một cách gọi thật gần gũi thân thương “người đồng mình”. Cách gọi ấy lại gắn liền với lời tâm tình rất tha thiết của cha với con “Người đồng mình yêu  lắm con ơi”. Người cha đã lí giải để con  có thể hiểu được “người đồng mình” đáng yêu thế nào. Họ sống rất đẹp, trong căn nhà của họ  bao giờ cũng vang vọng tiếng hát: “Đan lờ cài  nan hoa/ Vách nhà ken câu hát”. Các động từ “cài”, “ken” gây cảm giác quấn quýt thân thương, gợi một cuộc sống lao động êm đềm, vui tươi trong cảnh quê hương giàu đẹp nghĩa tình:
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cách nhân hoá “rừng”, “con đường” cho ta cảm nhận thiên nhiên quê hương như người mẹ đã che chở, nuôi dưỡng  tâm hồn đẹp đẽ của con người...
Đoạn thơ tiếp theo, người cha đã tha thiết nói với con về những phảm chất của con người quê hương. Cụm từ “người đồng mình” được lặp đi lặp lại nhiều lần gây ấn tượng về hình ảnh con người quê hương. Lời gọi con thật thiết tha, lời nhắn nhủ thật chân tình “Người đồng mình thương lắm con ơi”, người cha đã lần lượt ca ngợi những phẩm chất của “người đồng mình” với cách nói cụ thể, mộc mạc và độc đáo của người dân tộc miền núi. Người cha như giảng giải để cho đứa con hiểu về “người đồng mình”: Họ có thể có những nỗi đau buồn nhưng ý chí nghị lực luôn vươn lên “Cao đo  nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn”. “Người đồng mình chấp nhận gian khó không sợ gian khổ nghèo đói. Điều đó được thể hiện trong điẹp từ “không chê”, “không lo” và cách nói tha thiết yêu quý tự hào về quê hương. Nói với con về “người đồng mình”, người cha muốn nhắc nhở con phải sống thuỷ chung với quê hương, không chê quê hương dù quê hương có đói nghèo vất vả. Người cha tiếp tục nói với con về “người đồng mình” sống mạnh mẽ “như sông như suối dù có “lên thác xuống ghềnh” với cặp từ trái nghĩa “lên” “xuống” càng nhấn mạnh thêm ý chí của “người đồng mình”. Dùng những hình ảnh cụ thể của thiên nhiên như “sông”, “suối”, “thác”, “ghềnh” mang tính chất biểu  trưng cho những khó khăn gian khổ và sức mạnh vượt khó khăn của những con người quê hương là một cách độc đáo để người cha tâm sự với con.
Phẩm chất của những con người miền núi còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên  trong: “Người đồng mình tuy thô sơ da thịt/ Chẳng có ai nhỏ bé đâu con”.
“Người đồng mình” là vậy, không biết nói hay nói khéo, tuy mộc mạc chân chất, tuy “thô sơ da thịt” nhưng phẩm chất cao đẹp của họ, tâm hồn ý chí họ không bao giờ nhỏ bé. Vì thế, trên đường đời con phải làm những điều lớn lao, con phải sống cao thượng để xứng đáng là “người đồng mình”. “Người đồng mình” xây dựng quê hương bằng chính sức lực và tính bền bỉ của mình:
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì  làm phong tục
Việc “đục đá” là khó, đòi hỏi phải có tinh thần ý thức cao, vậy mà “người đồng mình” đã làm được để rạng rỡ quê hương. Họ sáng tạo và lưu truyền những phong tục tập quán đẹp. Người cha đã tâm sự, đã truyền cho con mình vẻ đẹp, sức mạnh truyền thống quê hương.
Kết thúc bài thơ là lời dặn, lời khuyên của người cha đối với con. Đó là lời gọi trìu mến, lời nhắn nhủ thiết tha. Điều người cha dặn con thật ngắn gọn, hàm súc mà sâu sắc “Con ơi tuy thô sơ da thịt/ Lên đường/ Không bao giờ nhỏ bé được/ Nghe con”. Người cha muốn nhắc nhở con là phải biết tự hào về những truyền thống quê hương, sống sao cho đẹp, xứng đáng với những phẩm chất của “người đồng mình” và phải tự tin vững bước trên đường đời, phải nhớ về cội nguồn dinh dưỡng, cội nguồn quê hương đất nước. Đó là cái lôi nuôi dưỡng con người khôn lớn trưởng thành. Thể thơ tự do, nhịp điệu lúc bay  bổng nhẹ nhàng, lúc mạnh mẽ đã tạo ra sự cộng hưởng  hài hoà với những thang bậc tình cảm khác nhau khiến lời người cha truyền thấm sang con.
Những phương tiện ngôn ngữ, những hình thức diễn đạt của người miền núi đã góp công lớn trong việc diễn tả tình cảm yêu thương con của người cha. Bài thơ đã góp phần tạo nên một tiếng nói riêng độc đáo về tình cảm gia đình, tình cảm quê hương trong làng thơ Việt Nam.

(St)

Chất trữ tình trong Lặng lẽ Sa Pa

Chất trữ tình trong tác phẩm “ Lặng lẽ Sa pa”


Chỉ có cuộc sống vì người khác mới là cuộc sống đáng quý!

Câu nói đầy ý nghĩa của  nhà khoa học A.Einstein khiến ta phải  trăn trở, suy nghĩ về cuộc sống, về bổn phận của mỗi con người trong cuộc đời này.Lời ngụ ý ấy đựơc nhà văn Nguyễn Thành Long gởi gắm qua một tác phẩm bàng bạc chất thơ, thấm đẫm chất trữ tình- “ Lặng lẽ Sa pa”.Đến với truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa pa”, ta không chỉ thán phục những con người làm việc quên mình vì người khác, vì  tổ quốc mà còn  say sưa, ngây ngất trong chất men say trữ tình lãng mạn của một thiên nhiên nên thơ qua những trang viết rất  mực  tài hoa.Phải nói rằng một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn và góp phần thành công cho truyện ngắn này là  Chất trữ tình.

 Nguyễn Thành Long  ( 1925 – 1991 ) quê huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, là cây bút chuyên về truyện ngắn và kí. Ông tham gia hoạt động văn nghệ trong những năm kháng chiến chống Pháp ở Nam Trung Bộ. Sau năm 1954, tập kết ra Bắc, công tác ở Hội nhà văn Việt Nam, chuyên về sáng tác và biên tập. Những truyện ngắn của Nguyễn Thành Long không gân guốc, gai góc mà thường pha chất kí, mang vẻ đẹp trong trẻo, thơ mộng, giàu chất trữ tình.

 Tác phẩm chính: Bát cơm Cụ Hồ ( 1955 ), Những tiếng vỗ cánh ( 1967 ), Giữa trong xanh (1972)… Với truyện kí  Bát cơm Cụ Hồ – 1953 Nguyễn Thành Long đã đựơc trao giải thưởng Phạm Văn Đồng.

Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa là kết quả trong chuyến đi lên Lao Cai trong mùa hè năm 1970, sau này in trong tập Giữa trong xanh (1972) của Nguyễn Thành Long. Đây là một truyện ngắn tiêu biểu ở đề tài viết về cuộc sống mới hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

          Truyện ngắn có cốt truyện khá đơn giản,chỉ tập trung vào cuộc gặp gỡ tình cờ giữa ông hoạ sĩ, cô kí sư trẻ và anh thanh niên-nhân vật chính của tác phẩm-trên đỉnh Yên Sơn cao 2600mét. Giữa khung cảnh thiên nhiên Sa pa đẹp như một bức tranh.

          Chất thơ bàng bạc toát lên từ khung cảnh thiên nhiên nên thơ ấy.Sa pa được miêu tả dưới một góc nhìn của một nhà hội hoạ.Nói đến Sa pa, người ta sẽ nghĩ ngay đến một nơi nghỉ ngơi, yên tĩnh và tuyệt đẹp. Nghĩ ngay đến những rừng hoa ban trắng muốt, những cánh rừng bạt ngàn dưới ánh nắng ban mai, những đồi núi trập trùng dưới sương mờ bao phủ, những thửa ruộng bậc thang, những phiên chợ tình lãng mạn... Thiên nhiên Sa pa dưới ngòi bút của Nguyễn Thành Long hiện lên cũng không kém phần sinh động như thật vậy.Nguyễn Thành Long đã nhập vai, đã hoá thân vào người hoạ sĩ, mượn cái nhìn của nghệ thuật hội họa, mượn lăng kính đầy màu sắc để tô vẽ nên một thiên nhiên không kém phần thơ mộng, lung linh, kì ảo, trữ tình.

          Sa pa xuất hiện đầu tiên với hình ảnh “những rặng đào” và “nhũng đàn bò lang cổ có đeo chuông ở các đồng cỏ trong thung lũng hai bên đường”. Đúng là sa pa rồi! Bạn có nhận ra chưa? Còn  người hoạ sĩ thì đã nhận ra cảnh quan ấy để rồi  tơ tưởng đến một ngày được về ở hẳn nơi ấy.Chỉ một ước muốn ấy thôi cũng cho thấy bức tranh thiên nhiên có sức hấp dẫn lòng người. Đẹp nhất vẫn là lúc nắng lên. Dưới ánh nắng, dường như mọi vật đều trở nên sinh động. Ánh nắng làm cho bức tranh trở nên đầy màu sắc, khiến con người họa sĩ và cô kĩ sư cũng nín bặt vì vẻ đẹp lạ kì của cảnh.đến đây ta lại như thấy cái nhìn của một nhà làm phim, đang quay rất chậm và cận cảnh một bức tranh phong cảnh. Cảnh đẹp quá, khiến tay quay như không dám lia nhanh máy và dường như nín thở vì sợ cảnh ấy vụt biến khỏi tầm nhìn “ Nắng bây giờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của cây tử kinh thỉnh thoảng nhô  cái đầu hình hoa cà lên trên màu xanh của rừng,. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục , lăn trên vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn vào cả gầm xe”. Rõ ràng tác giả đang đặc điểm nhìn từ trên cao nhìn xuống. Không gian bao quát, có cả mây, có cả rừng, và thậm chí xuống đến cả gầm xe nhưng lại đựơc nhìn theo có một chiều. Vẫn rất hợp lí. Ta cứ tuởng tượng, người hoạ sĩ đang ngồi trên xe và xe thì đang nằm ngang với mây trời Tây Bắc.Chính vì lẽ đó mà có những đụn mây vón cục xen vào những tán lá rừng.Vì lẽ đó mới thấy được những giọt sương len trên vòm lá, cùng lúc với những tia nắng mặt trời chiếu trên đỉnh những chòm thông.Thiên nhiên đuợc nhân hoá trở nên sống động lạ kì “ Nắng len tới”; chòm thông rung tít với “những ngón” tay bằng bạc; cây tử kinh với cái “ Nhìn bao che” “nhô dầu” ; “ mây xua nắng đi”...Bức tranh hiện lên với nhiều màu sắc tươi sáng, màu xanh của những cánh rừng bạc ngàn, màu tím của những cây tử kinh,màu trắng của những đụn mây trời và màu vàng tươi của sắc nắng...Khung cảnh bồng bềnh, sương khói, lãng đãng mây trời và ngập tràn ánh sáng ấy chính là khung nền cho một cuộc gặp gỡ cũng thấm đẫm chất trữ tình, bàng bạc chất nên thơ.

          Chất trữ tình trong truyện chủ yếu toát lên từ cuộc gặp gỡ tình cờ mà để lại nhiều dư vị ấy, từ những nét đẹp rất đáng mến của anh thanh niên, từ  những câu chuyện anh kể về cuộc sống của mình giữa lặng lẽ Sa pa.Trong câu chuyện rất mực tình cờ trên một chuyến xe, qua lời kể của bác tài xế, anh thanh niên hiện lên là một chàng thanh niên “ Cô độc nhất thế gian” với một nỗi “ thèm người” hiếm có. Nỗi “thèm người”  ấy khiến anh phải một mình hè lưng đẩy cả một gốc cây to ra ngáng đường xe chạy, để được nhìn đôi chút, được trò chuyện  một lát với những người từ dưới xuôi lên. Nỗi “thèm người”  ấy không phải là nỗi nhớ phồn hoa đô thị, nhớ cuộc sống an nhàn ở dưới xuôi mà đó là thèm cái tình người, thèm được bày tỏ tình cảm.Bởi dù phải lao động một mình ở một nơi hoàn toàn khắc nghiệt như vậy nhưng con người ấy không hề cảm thấy buồn tẻ, cô đơn . Ta hãy nghe anh tâm  sự: “Khi ta làm việc, ta với công việc là một đôi chứ sao gọi là một mình được?”.Nỗi “thèm người” của anh chính lẽ  đương nhiên của một con người, của một chàng trai trẻ.

          Qua cái nhìn của người họa sĩ, anh thanh niên hiện lên là một “ chàng trai nhỏ bé với khuôn mặt rạng rỡ”. Anh sống trong một căn nhà ba gian, sạch sẽ với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu gọn lại ở một góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách. Một cuộc sống gọn gàng, ngăn nắp của một người yêu đời, say mê công việc, và không lấy gì là buồn chán cô đơn.Ngoài những giờ ốp, anh nuôi gà, trồng hoa và đọc sách. Với anh, sách là người bạn.Cuộc sống giản dị ấy tưởng chừng giản đơn nhưng để có nó thật không đơn giản chút nào. Bác họa sĩ già khi thấy anh thanh niên vội vội vàng vàng chạy trước lên nhà khi mời khách lên chơi đã thoáng có ý nghĩ như vậy.

“Khách tới nhà bất ngờ, Chắc cu cậu chưa kịp  quét tước , dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn”.Nhưng người họa sĩ lấy lại được dịp ngạc nhiên khi bước lên khỏi bậc thang, thấy người con trai đang hái hoa. “Còn cô kĩ sư chỉ kịp “ồ” lên một tiếng!”. “Sau gần hai ngày, qua ngót bốn trăm cây số đường dài cách xa Hà Nội, đứng trong mây mù ngang tầm với chiếc cầu vồng kia, bổng nhiên lại gặp hoa dơn, hoa thược dược, vàng, tím, đỏ, hồng phấn, tổ ong...ngay lúc dưới kia là mùa hè.”Làm cô gái quên cả e thẹn.Cuộc gặp gỡ tình cờ mà rất đỗi tự nhiên, khiến chàng trai cũng nhẹ nhàng , tự nhiên trao tặng cô gái bó hoa, và cô gái cũng nhẹ nhàng đón nhận. Đọc đến đây em bất giác suy nghĩ: phải chăng chính khung cảnh thiên nhiên thơ mộng trữ tình ấy đã tạo nền cho cuộc gặp gỡ thơ mộng trữ tình kia,. Phải chăng chính cái luống hoa đầy màu sắc như tình cảm muôn màu của anh thanh niên đã kia

“ cám dỗ” tâm hồn cô kĩ sư đang có nhiều tâm sự? Để rồi cô mở lòng ra đón nhận tình cảm chân thành từ anh, một chàng trai xa lạ một cách tự nhiên cởi mở như một người bạn thân quen đã xa cách lâu ngày. Nhẹ nhàng và quyến rũ. Cái chất men ấy cứ bàng bạc lòng người, bàng bạc đến cuối cuộc chia tay. Để rồi cô gái ấy đã để lại lòng mình cùng với chiếc khăn tay, để rồi chàng trai không hiểu ý, vô tình đem trả lại...Tất cả không qua khỏi con mắt của người nghệ sĩ. Hay tất cả đều được nhìn qua lăng kính của một người nghệ sĩ nên thật lãng mạn, thật nên thơ.một cái gì đó thoáng qua, một cái gì đó sương khói mà sao vẫn để lại dư âm vang mãi trong lòng người. Có khi  những điều tưởng  chừng nhỏ nhoi ấy lại có sức khơi gợi làm thay đổi một cách nhìn, làm thay đổi một cách nghĩ,thay đổi một quan niệm sống.

           Với tình cảm chân thành, cởi mở của chàng trai,với những củ tam thất gởi biếu vợ bác lái xe, với quả trứng gà gởi khách khi rời nhà và cùng với bó hoa tặng cô gái... tất cả chỉ là những món quà nhỏ, món quà của tinh thần mà sao ta vẫn thấy nó có giá trị biết bao. Có ý nghĩa  lớn lao biết bao.Chính lối sống say mê, nhiệt tình, chân thành, cởi mở và đầy tinh thần trách nhiệm của anh thanh niên đã khiến cho người nghệ sĩ nhìn anh với một con mắt khác, nhìn mình với một cái nhìn khác. Ông cảm thấy đã bắt gặp được một bức chân dung về cuộc sống, ông muốn ghi lại nó. Vẻ lại anh thanh niên với khuôn mặt rạng ngời thì có lẽ không có gì khó vẽ đối với người họa sĩ, nhưng anh thanh niên đã khiến ông muốn vẽ lại bức chân dung tinh thần về anh. Chính anh đã khiến ông có suy nghĩ khác về cuộc sống về nghệ thuật .Để vẽ được tất cả những gì cảm nhận được về anh thanh niên thật khó quá.Người nghệ sĩ cảm thấy “ nhọc quá”.

           Chính cái tình người của anh thanh niên đã khiến bác lái xe mỗi khi lên đến ngang đèo đều cho xe dừng lại. Bác dừng lại chắc cũng không chỉ vì những chén nước chè tươi, chắc cũng không chỉ vì muốn đưa cho anh những cuốn sách mà bởi vì bác quý một con người, quý một tâm hồn thầm lặng. Cô kĩ sư, để lại chiếc khăn tay không phải vì mới đầu cô có tình ý gì đặc biệt với anh thanh niên mà bởi chính cuộc sống của anh thanh niên đã làm thay đổi suy nghĩ của cô về con người về lí tưởng sống của thanh niên, cô muốn để lại một cái gì đó kỉ niệm cho lần gặp gỡ này. “ Cô chìa tay cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng như người ta trao cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay” . Cô đã hiểu được nhiều điều về cuộc sống từ anh thanh niên. Còn người họa sĩ già thì cũng thật sự xúc động lúc chia tay. Đã chụp lấy tay anh thanh niên và nói : “ Chắc chắn tôi sẽ quay trở lại. Tôi sẽ ở với anh vài hôm được chứ!”. Chính anh thanh niên đã làm thay đổi cả suy nghĩ chủa người nghệ sĩ lão thành ấy. Chính cuộc sống trẻ trung của anh, chính lí tưởng sống quên mình của anh đã khiến cho người họa sĩ có cách nhìn nhận khác về Sa pa, về  quan điểm nghệ thuật. Ông sẽ quay lại Sa pa không phải để nghĩ ngơi, tỉnh dưỡng như lời nói với bác lái xe ban đầu mà để làm một viêc gì đó có ích cho cuộc sống này. Ông đã cảm thấy rằng  Sa Pa không chỉ là nơi để nghỉ ngơi, tỉnh dưỡng mà nơi ấy còn có biết bao con người làm việc và cống hiến một cách thầm lặng cho cuộc đời.

Có thể nói, Truyện Lặng lẽ sa pa có dáng dấp của một bài thơ,chất thơ  bàng bạc trong toàn truyện, từ phong cảnh vùng núi cao đến hình ảnh những con người  sống và làm việc trong cái lặng lẽ mà không hề cô độc, bởi sự gắn bó của họ với đất nước, với  mọi người.Nếu như đến với “ Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam người đọc cảm nhận được chất trữ tình toát lên từ tình người đầm ấm của cậu bé Sơn, của  vú già, của mẹ Sơn qua những cử chỉ yêu thương, ấm áp tình người trong mùa gió lạnh thì đến với “ Lặng lẽ sa pa của Nguyễn Thành Long ta lại cảm nhận cũng cái tình người ấm áp ấy  qua cuộc gặp gỡ đầy tình cờ và bất ngờ giữa những con người ở cái nơi heo hút tưởng chừng  chỉ có núi đồi, và yên lặng.Ta bắt gặp hình ảnh những con  người chỉ mới  thoáng qua thôi, không để lại tên tuổi, quê quán, chỉ biết họ là anh thanh niên, ông kĩ sư chuyên nghiên cứu vườn rau để thụ phấn cho cây su hào , nhà  nghiên cứu bản đồ sét... Họ sống và làm việc một cách âm thầm, lặng lẽ mà không hề tẻ nhạt. Niềm say mê lao động, sự hăng hái nhiệt tình trong cách sống,tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên của họ đã để lại trong lòng người đọc bao suy nghĩ, trăn trở về cuộc đời.Lối sống của họ khiến em nghĩ đến lời ca đầy tính triết lí và quen thuộc trong bài hát “Một đời người, một rừng cây” của tác giả Trần Long Ẩn: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng. Gian khổ sẽ giành phần ai ? Ai cũng một thời trẻ trai, cũng thường nghĩ về đời mình.”.

          Truyên đã thành công trong cách xây dựng tình huống hợp lí, tự nhiên mà hết sức bất ngờ, trong cách kể chuyện giản dị, trong cách miêu tả con người, cảnh vật dưới nhiều điểm nhìn. Ở đây ta thấy có hai nhân vật thường xuyên suy ngẫm, thường  nhìn nhân vật chính - hai nhân vật đại diện cho hai thế hệ, hai cách suy nghĩ khác nhau. Để rồi chân dung nhân vật dần dần được khắc họa.Ngôn ngữ đậm chất hội họa, trữ tình cũng là một trong những thành công của thiên truyện.

 “ Sa Pa lặng lẽ” nhưng lại để lại nhiều dư vang. Sa pa lặng lẽ mà trữ tình, lãng mạn. Sa pa lặng lẽ mà không cô quạnh, đìu hiu. Bởi nơi đây, vẫn còn có rất nhiều những con người ngày đêm âm thầm lặng lẽ dâng hiến tuổi trẻ, trí tuệ và niềm say mê lao động của mình cho đất nước, cho cuộc đời. Hãy làm những việc bình thường bằng một niềm tin phi thường bạn nhé! Chính tình yêu cuộc sống, sự say mê lao động sẽ đem đến cho bạn những giây phút thăng hoa.Chính niềm say mê sáng tạo mà Nguyễn Thành Long đã mang đến cho ta một áng văn thấm đẫm chất trữ tình.

Sưu tầm


Người nông dân trong truyện ngắn "Làng" của Kim Lân

Nhân vật ông Hai trong Làng - Kim Lân.



  Nhà thơ Xuân Quỳnh kết thúc bài thơ “Tiếng gà trưa”với một khái quát thật hình tượng:

Cháu chiến đấu hôm nay

Vì lòng yêu Tổ quốc

Vì xóm làng thân thuộc

Bà ơi, cũng vì bà

Vì tiếng gà cục tác

 Ổ trứng hồng tuổi thơ.

       Tình cảm đối với làng, với nước, không phải là những biểu hiện mơ hồ, trừu tượng, mà trong văn học, tình cảm lớn lao, thiêng liêng ấy được biểu hiện thật cảm động. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tình cảm yêu làng, yêu nước của người nông dân đã được nhà văn Kim Lân thể hiện thật thành công. Ông Hai trong truyện Làng đã sống trong lòng người đọc nhiều thế hệ bởi những tình cảm yêu làng yêu nước, yêu kháng chiến với những nỗi buồn, niềm vui và biết bao xót đau, trăn trở... Lật lại từng trang truyện, ta nghẹn ngào xúc động cùng buồn vui với nhân vật, càng thấu hiểu được vẻ đẹp ẩn chứa trong bức tranh nội tâm của ông Hai – nhân vật chính của truyện.

       Tình yêu làng sâu sắc là nét đẹp nổi bật trong tâm hồn ông Hai. Tình cảm ấy được Kim Lân thể hiện gọn trong một nét tâm lý hay khoe của ông Hai. Ông khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyện truyền sáng sủa, rộng rải nhất vùng, con đường làng, chòi thông tin...lời khoe ấy biểu hiện một niềm tự hào về làng quê, tự hào về sự giàu có của làng mình..Đặc biệt Kim lân đã chú ý thể hiện nội tâm của ông Hai khi kể chuyện về làng mình. Khi thì ông say sưa, náo nức lạ thường, hai con mắt sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động. khi thì hãnh diện,  mê man giảng giải, lúc lại rành rọt từng cái một, có lúc ngậm ngùi chua xót. Miêu tả tâm lý nhân vật bằng những nét miêu tả sinh động, Kim lân đã thực sự làm nên cái duyên của truyện và cũng vì thế mà nội tâm nhân vật được sinh động và cuốn hút kì lạ. Người đọc cứ muốn khám phá và hiểu thêm ông Hai rất nhiều.

      Ông Hai hay khoe làng, sống xởi lởi là thế, mà khi tản cư, ông phải nén lòng lại, sống trong tù túng, nhớ thương. Câu nói “ tản cư âu cũng là kháng chiến” là tiếng nói tự động viên lòng mình chăng! Có lẽ nghĩ như thế lòng ông Hai nhẹ đi phần nào khi phải xa làng.  Khoe làng giàu có, làng kháng chiến với những giao thông hào, những đêm tập quân sự, ông Hai rất muốn tham gia trực tiếp cuộc kháng chiến ở làng. Rõ ràng, bắt nguồn từ truyền thống yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc, tình cảm của ông Hai dành cho làng là một tình cảm  sâu sắc, thiết tha vô cùng. Tình cảm ấy cũng là nét tâm lý chung của mọi tầng lớp nhân dân lúc bấy giờ.

         Kim Lân rất tinh tế khi phát hiện sự chuyến đổi tâm lý trong nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy không náu mình dưới bóng tre làng râm mát mà mở rộng ra thành ý thức tránh nhiệm với Tổ quốc, đất nước. Khéo léo xây dựng tình huống để nhân vật bộc lộ trực tiếp nội tâm của mình, đây cũng là điểm nghệ thuật thành công của Kim Lân. Vừa hả hê trước thất bại của giặc, một tin dữ lại bất ngờ ập đến. Một người đàn bà tản cư lên  nói “ cả làng chúng nó Việt gian theo Tây ...Việt gian từ thằng chủ tịch mà đi...” Lời ấy như  nhát dao cắt đứt từng khúc ruột . Còn nỗi đau nào hơn niềm tin bị đỗ vỡ. Thật đau đớn , thật xót xa, khi mà cả cuộc đời ông dành để yêu thương trọn vẹn, tin tưởng trọn vẹn làng quê. Ông không tin vào điều ấy. Nhưng sự thật đã rành rành ra đấy. Tác giả miêu tả khuôn mặt ông Hai như những nét hiện hình về nỗi đau khổ không nén được  “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão  tưởng như lặng đi, không thở được nữa. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ. Ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi” Cái nghẹn ngào ấy phải chăng là sự uất ức, tức giận, ngạc nhiên không thể nuốt trôi? Ông chỉ biết cúi gằm mặt xuống mà đi về đến nhà ông năm vật ra giường nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng hai bên má. Có lẽ, nếu ông không quá yêu làng thì đâu cảm thấy dằn vặt đến vậy, làng mà ông tin tưởng, yêu quý, gắn bó lại là một làng theo giặc. Nỗi đau đớn, xót xa, tủi hổ đã biến thành nỗi ám ảnh, sợ hãi thương trực trong ông. Ông sợ tiếp xúc, sợ bàn tán, sợ người ta biết mình là người làng chợ Dầu, sợ bị hắt hủi, đuổi đi. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy....Lời than của ông đã biểu hiện nỗi lòng sâu nặng với làng với nước! ông đã từng da diết nhớ làng, mong được trở về làng, nhưng bây giờ khi ý nghĩ ấy vừa đến ông đã phản đối ngay “về làng tức là rời bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ” Tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mạnh bằng tình yêu nước. Vì thế mà ông Hai đã có thái độ thật dứt khoát: Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù. Những diễn biến, xung đột diễn ra mỗi lúc mỗi quyết liệt, dồn nén.

      Từ một người nông dân yêu làng sống xởi lởi, sôi nổi, hay nói, hay khoe về làng, ông Hai trở thành người lặng lẽ, buồn khổ. Trong hoàn cảnh ấy, Kim Lân để ông Hai bộc lộ nội tâm qua lời tâm sự với đứa con nhỏ của mình thật cảm động. Cuộc trò chuyện của ông với đứa út xoay quanh hai việc: Nhà ta ở làng Chợ Dầu, và ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm. Ông nói như thế để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa. Đoạn độc thoại này đã biểu hiện thật cảm động nội tâm yêu làng yêu nước của ông Hai. Có lẽ, phải thật sự am hiểu sâu sắc về con người, nhất là tâm lý người nông dân, nhà văn Kim Lân mới diễn tả tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai đúng và hay đến vậy!

     Nếu như  trước ông Hai buồn khổ bao nhiêu  thì lúc tin đồn được cải chính ông vui mừng bấy nhiêu. Cái khuôn mặt buồn thỉu, đau đớn, sầu khổ, cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rõ hẳn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy. Ông tất bật đưa quà cho con rồi lật đật đi khoe. Ông “Lật đật đi thẳng sang gian bác Thứ; lật đật bỏ lên nhà trên, lật đật bỏ đi nơi khác; múa tay lên mà khoe; vén quần lên tận bẹn mà nói chuyện về cái làng của ông...” ông kể việc làng bị đốt, nhà bị đốt mà ông vẫn vui. Vì sao ông không tỏ ra thương tiếc buồn rầu gì cả? Bởi ông hiểu nhà ông bị đốt cháy chính là một bằng chứng minh oan cho sự hiểu lầm và sự nghi ngờ từ tin xấu rõ ràng là được thanh minh. Niềm vui thật kỳ lạ, nó xua đi tất cả những gì đen tối trong đầu ông Hai. Ông vui sướng vì niềm tin, tình yêu làng trong ông là đúng, không bao giờ có thể dập tắt được. Cuộc kháng chiến còn dài, sự mất mát, hy sinh là lẽ thường và ông, dân làng ông sẵn sàng! Lối viết lôi cuốn, độc đáo của tác giả dẫn người đọc  đến sự cảm thông chia sẻ, yêu quý ông Hai; khiến người đọc yêu mến, đồng cảm với nhân vật. Đây cũng là thành công lớn của Kim Lân.

            Cách xây dựng nhân vật trong tình huống kịch tính, mở nút, thắt nút bất ngờ khiến người đọc hồi hộp lo lắng, chú ý. Đặc biệt là biệt tài miêu tả tâm lý nhân vật sâu sắc, sinh động; cách xen tả và kể; cách sắp xếp tâm lý đối lập nhau tạo nên một bức tranh nội tâm với những mảng màu tương phản, ấn tượng mà hết sức gần gũi. Những thành công về nghệ thuật đã khắc hoạ đậm nét cá tính nhân vật và thể hiện nội tâm nhân vật thật sâu sắc.

            Đọc truỵện làng của Kim Lân, em càng hiểu về nhân vật ông Hai, một nông dân trong kháng chiến. Phải chăng qua những nét tính cách, qua nội tâm yêu làng yêu nước, son sắt thuỷ chung với kháng chiến, với cụ Hồ, Kim Lân đã đề cao những điều đáng quý về nhân dân trong kháng chiến. Tác phẩm ca ngợi những phẩm chất của người nông dân trong kháng chiến cũng là cách nhìn đầy tin tưởng của nhà văn với cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta. Từ đấy, em càng hiểu hơn về cuộc kháng chiến của dân tộc, càng trân trọng tình yêu làng yêu nước trong những con người bình thường mà chính tấm lòng yêu làng yêu nước ấy là sức mạnh tinh thần vô cùng to lớn để cả dân tộc làm nên chiến thắng, đem lại cuộc sống thanh bình ngày hôm nay!

      Xây dựng nhân vật ông Hai, tác giả đã tô thêm những nét đẹp cho con người Việt Nam. Họ không chỉ cần cù, chăm chỉ, thông minh mà còn có tình yêu quê hương đất nước mãnh liệt, sẵn sàng hy sinh mọi thứ vì Tổ quốc thân yêu. Tác giả  A li  a  Ê ren Bua khẳng định: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ Quốc”. Đúng vậy! Vẻ đẹp tâm hồn của ông Hai, nhân vật chính trong truyện ngắn Làng của Kim Lân, mang tình cảm ấy, một tình cảm thiết tha trong sáng, thuỷ chung, sâu sắc thật xúc động.


(Sưu tầm)

Nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn "Lặng lẽ Sa Pa"

NHÂN VẬT ANH THANH NIÊN trong “LẶNG LẼ SA PA”

            Truyện Lặng lẽ SaPa được Nguyễn Thành Long sáng tác năm 1970. Tác phẩm xây dựng từ một tình huống thật đơn giản. Với câu chuyện bàng bạc chất thơ, Tác giả đã đưa người đọc đến với SaPa thơ mộng để cảm nhận về những con người lặng lẽ làm việc và lo nghĩ cho đất nước. Nhân vật chính trong truyện là anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. Suy nghĩ và việc làm của anh thể hiện một vẻ đẹp tâm hồn, một tính cách của thế hệ thanh niên. Có thể nói chất thơ của truyện không chỉ ở những hình ảnh đẹp của thiên nhiên mà còn toát lên từ vẻ đẹp tâm hồn nhân vật chính trong truyện - Anh thanh niên.

            Nhân vật chính của truyện- anh thanh niên-  chỉ xuất hiện trong chốc lát nhưng là điểm sáng nổi bật nhất trong bức tranh mà tác giả tập trung thể hiện. Sức thu hút của anh chính là ở thái độ và những suy nghĩ về cuộc sống và công việc của một người sốngvà làm việc một mình  giữa lặng lẽ của thiên nhiên. Tác giả khắc hoạ nổi bật hình ảnh anh thanh niên ở một hoàn cảnh sống và làm việc thật đặc biệt: Một mình trên đỉnh Yên Sơn, quanh năm suốt tháng giữa cái lặng lẽ mênh mông của cỏ cây, mây núi. Công việc của anh thật gian khổ, thật vất vả. Anh “Đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất”. Anh phải dậy vào lúc 1 giờ đêm, khi bên ngoài rét đến nỗi lúc vào lại không ngủ được.”. Anh kể “Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: Nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung” Lời kể ấy chứng tỏ anh đã nếm trải gian khổ để mà hoàn thành công việc. Nhưng cái khó khăn, thách thức lớn nhât đối với anh chính là sự cô đơn thường trực, lúc nào cũng “thèm người”.
            Đặt nhân vật vào hoàn cảnh thơ mộng mà gian khổ, lãng mạn mà đầy thử thách. Vậy điều gì giúp anh thanh niên vượt qua hoàn cảnh gian khổ, thử thách ấy?

         Trước hết, đó chính là sức mạnh của ý thức trách nhiệm và tình yêu đối với công việc. Công việc “Đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất”. Công việc gian khổ ấy được anh lặng lẽ hoàn thành. Anh hiểu được nhiệm vụ của anh là “Phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Được biết từ việc báo tin về một đám mây khô của anh mà bộ đội ta bắn rơi máy bay địch trên cầu Hàm Rồng, anh “ thấy thật  hạnh phúc.”. Tinh thần trách nhiệm đã là động lực chính để anh một mình sống, làm việc tận tụy, để anh hiểu được hạnh phúc là làm việc, là cống hiến.

              Tác giả để anh thanh niên nói lên những suy nghĩ từ tiếng lòng  tha thiết. Đó là những suy nghĩ sâu sắc, nghiêm túc về nghề nghiệp và về công việc. Với công việc, anh nghĩ “...Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi sao gọi là một mình được”Đó là tình yêu nghề, sự gắn bó với nghề nghiệp. Phải chăng khi ta yêu thích công việc của mình, thì công việc đem lại cho ta niềm vui, khi đó ta không còn cảm thấy đơn độc. Anh càng hiểu “Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy nhưng cắt bỏ nó đi cháu buồn đến chết mất” Rõ ràng, với anh nghề nghiệp như là lẽ sống. Phải chăng lòng yêu nghề tha thiết ấy, sự gắn bó với nghề nghiệp bằng một tình yêu sâu sắc. Tình yêu nghề đã làm anh không thấy cô đơn dù một mình anh giữa SaPa quanh năm với cây cỏ và mây mù.

            Không chỉ suy nghĩ sâu sắc về công việc, về nghề nghiệp, anh thanh niên còn có những suy nghĩ về cuộc sống thật sâu sắc, thật trách nhiệm.  Anh đã suy nghĩ “ người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì... mình vì ai mà làm việc?” Đó, rõ ràng, là những trăn trở của anh với cuộc sống. Anh hiểu rằng là con người ai cũng phải làm việc vì sự sống của bản thân và sự sống của cộng đồng. Thật đáng quý là anh đã tách mình ra khỏi những suy nghĩ tầm thường, cách sống tầm thường “Cháu bỗng tự hỏi: cái nhớ xe nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì xoàng”. Có thể nói những suy nghĩ nghiêm túc của anh thanh niên đã bộc lộ tâm hồn trong sáng, cách sống đẹp, một thái độ trách nhiệm với cuộc sống.

             Anh đã chiến thắng nỗi cô đơn, sự vắng vẻ, chiến thắng hoàn cảnh  bằng một cách sống thật nghiêm túc mà cũng thật lãng mạn. ở một mình nhưng ngôi nhà của anh vẫn rất ngăn nắp, gọn gàng. Đó là ngôi nhà ba gian với cuộc đời riêng của anh thanh niên thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giường con, một bàn học một giá sách. Anh nuôi gà, trứng ăn không xuể, anh trồng hoa. Trong vườn rất nhiều hoa: Hoa dơn, hoa thược dược vàng, tím, đỏ, hồng phấn, tổ ong. Anh tìm thấy niềm vui từ những trang sách.Tóm lại, trong ngôi nhà ngăn nắp, vườn hoa, chuồng gà, giá sách...Những điều đó phản ánh một tâm hồn đẹp, lãng mạn. Tất cả điều đó là do anh tạo ra để chiến thắng sự cô đơn giữa SaPa lạnh lẽo và mây mù.

 Không chỉ vượt khó để hoàn thành công việc bằng một tình yêu nghề, một ý thức trách nhiệm, anh thanh niện còn luôn quan tâm, tận tuỵ với mọi người. Anh gửi bác lại xe một gói tam thất về cho bác gái đang ốm nặng, chuẩn bị ly trà nóng cho khách đường xa, một làn trứng cho người hoạ sĩ già,  tặng hoa cho cô kĩ sư trong lần gặp  cũng như khi chia tay. Những cử chỉ quan tâm đó thật tự nhiên, chân thành và chu đáo. Nó thể hiện sự trân trọng yêu thương và quan tâm đến mọi người. Khi người hoạ sĩ kí hoạ về anh, anh đã giới thiệu về một kĩ sư rình xem cách ong lấy phấn, thụ phấn cho hoa su hào để tạo giống su hào to hơn, ngọt hơn cho nhân dân miền Bắc; một đồng chí suốt ngày chờ sét, mười một năm không một ngày xa cơ quan...để lập bản đồ sét cho nước ta; anh giới thiệu về người bạn trên đỉnh Pan Xi phăng xa xôi kia...Anh đã quan tâm đến những con người thầm lặng đang miệt mài lao động sáng tạo để phục vụ nhân dân. Anh am hiểu, ngưởng mộ, ngợi ca từng công việc, từng con người, tôn vinh sự lao động của mọi người. Ta thấy anh hiện lên bằng một đức tính khiêm nhường, một sự quý trọng lao động sáng tạo, quên mình vì hạnh phúc của nhân dân.

           Đọc truỵện ngắn Lặng lẽ SaPa, ta như đồng cảm với tâm trạng của người hoạ sĩ khi nghĩ về anh. Người con trai ấy đáng yêu thật, nhưng làm ông khó nhọc quá. Đúng là anh đáng yêu thật. Đáng yêu ở tâm hồn, ở cách sống, ở sự tha thiết với nghệ nghiệp để cống hiến. Vẻ đẹp đáng yêu ở anh thanh niên cũng là vẻ đẹp của con người mới đang hăng hái xây dựng đất nước. Vẻ đẹp mà người hoạ sĩ ví von “Thanh niên bây giờ lạ thật ! các anh chị cứ như con bướm” phải chăng đó là vẻ đẹp hồn nhiên muôn màu, có sức hấp dẫn của vẻ đẹp đa dạng và bất ngờ của thế hệ trẻ. Phải chăng từ cách sống, từ tâm hồn của anh thanh niên trong tác phẩm làm người hoạ sĩ cũng như mọi người đọc càng thêm cảm nhận mới mẻ, thêm tin yêu, thêm hy vọng vào thế hệ thanh niên trong công cuộc xây dựng đất nước. Nguyễn Thành Long đã xây dựng một cốt truyện giản dị nhưng gợi nhiều suy nghĩ sâu xa về cách sống. Nhân vật anh thanh niên đã gợi trong lòng ta những cảm xúc đầy tin tưởng, yêu mến, trân trọng về những con người lặng lẽ suy nghĩ, cống hiến xây dựng cuộc sống tươi đẹp của chúng ta.

             Nếu như truyện Lặng lẽ sa pa đã ca ngợi những con người lặng lẽ làm việc và cống hiến cho Tổ quốc, thì nhân vật anh thanh niên là tiêu biểu, là trung tâm. Anh thanh niên cũng như bao người khác với công việc lặng lẽ của mình đã làm nền tảng của cuộc sống. Chính anh cũng như bao nhiêu người lao động bên ngoài cuộc sống vượt khó khăn, say mê cống hiến là những người làm nên vẻ đẹp muôn màu của cuộc đời mới. Công việc của anh, thái độ sống của anh, suy nghĩ, tâm hồn anh góp một phần làm nên chất thơ trong trẻo của tác phẩm. Và nên chăng gọi anh là anh hùng thầm lặng với chiến công thầm lặng mà người đọc cảm nhận đầy trân trọng!

 (Sưu tầm)

Lẽ sống từ bài thơ "Ánh trăng" của Nguyễn Duy

Lẽ sống từ bài thơ "Ánh trăng" của Nguyễn Duy



Đất nước giải phóng được ba năm, những anh bộ đội cụ Hồ về với nhịp điệu của cuộc sống thời bình. Trước những tiện nghi hiện đại, trước những cám dỗ tầm thường, ngày hôm qua lắng lại trong những bận bịu, lo toan. Đúng như một nhà thơ đã viết:

Có những lúc trên đường đời tấp nập

Ta vô tình đã đi lướt qua nhau.

Vâng, sự vô tình ấy không nên thanh minh mà rất cần thức tỉnh. Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn  Duy, với lời thơ mộc mạc, chất trữ tình lại là tiếng lòng chân thật cất lên từ chất tự sự của một câu chuyện thơ. Bài thơ thể hiện một chủ đề truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”mà thấm thía bởi nội tâm của nhà thơ từ cái giật mình đáng quý!

 Bài thơ có cấu tứ từ một câu chuyện ngắn, với cách kể linh hoạt của thể thơ năm chữ. chất trữ tình làm nền để lời tâm tình mộc mạc, chân chất ; lời độc thoại với lòng mình trước quá khứ, hiện tại; trước cái còn cái mất, trước cái hôm qua- hôm nay trở thành tiếng lòng của nhà thơ trước cuộc đời.

Bắt đầu là câu chuyện kể với giọng bình thản, nhà thơ lặng trôi theo những xúc động của một quá khứ riêng mình. Không kể, không tả mà là điểm qua từng khoảng không gian, thời gian. Lời kể lướt qua nhanh mà đủ  sức gợi, đủ sức lay động lòng người:

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ.

Hai khoảng thời gian đẹp nhất của nhân vật trữ tình. Đó là “Hồi nhỏ”và “Hồi chiến tranh”. “Hồi nhỏ sống với đồng- với sông rồi với bể”, điệp từ “với” mở ra ba không gian đồng, sông, bể. Không gian vừa mênh mông vừa gần gũi. Không phải chỉ là sự gần gũi, thân thiết mà là “sống với” nghĩa là vô cùng gắn bó. Vầng trăng trong không gian thơ ấu đẹp hồn nhiên thật. Nhưng bước ngoặt lớn đối với tác giả đấy là hồi chiến tranh. Tại sao đến lúc này vầng trăng mới thành tri kỉ? Phải chăng trong kháng chiến, xa quê hương, xa gia đình, đối diện với biết bao gian lao của cuộc kháng chiến, vầng trăng vô cùng thân thiết, hiểu nhau, không thể thiếu nhau. Trăng và người chiến sĩ cùng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, cho nên vầng trăng thành tri kỉ. Trăng được nhân hoá thành người bạn, người tri kỉ gắn bó bằng tâm hồn. Đến khi vầng trăng tri kỉ xuất hiện, giọng thơ chậm lại đầy suy ngẫm:

Trần trụi với thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ.

Ngỡ không bao giờ quên

Cái vầng trăng tình nghĩa

Trăng và người chiến sĩ là thế đó! Trăng đã sống với nhau thân thiết, gần gũi đến trần trụi, hồn nhiên vô tư đến độ như cây cỏ.  Vì vậy vầng trăng không chỉ tri kỉ mà còn ân tình biết bao! Thuỷ chung biết bao! Ngỡ rằng con người không bao giờ quên hình ảnh sâu đậm áy. Thế mà khi hoàn cảnh thay đổi,  con người trở nên vô tình, trở thành kẻ “ăn ở bạc”. Vẫn bằng giọng thủ thỉ , tâm tình mà ta nghe như bắt đầu gió sóng ở đâu đấy đã nổi lên rồi trong lòng. Cả một quảng đời thơ ấu, sống giữa thiên nhiên, những năm tháng chiến tranh ở rừng vẫn sống với thiên nhiên. Hồi nhỏ trăng là bạn “Em đi trăng theo bước/ Như muốn cùng đi chơi”, khi làm anh bộ đội, thì “đầu súng trăng treo”, vầng trăng thành tri kỉ. Vầng trăng đã trở thành biểu tượng của yêu thương, thuỷ chung, nghĩa tình. Vậy mà:

Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện của gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường

Vẫn giọng điệu bình thản ấy, vậy mà nghe như hờn trách, xót xa. Quá khứ và hiện tại đối lập một cách sắc cạnh. Nếu thuỷ chung, tình nghĩa là một nét đẹp trong tính cách dân tộc, thì thái độ đối xử này không chỉ là đáng trách! Những bận rộn trong cuộc sống hằng ngày, nhịp điệu gấp gáp nơi đô thị có bào chữa cho sự bội bạc ấy chăng? Cũng như ánh điện tràn ngập khắp nhà cao, nối bao con đường, lối phố có thể giúp thanh minh cho sự dửng dưng, hờ hững kia chăng? Không, Nguyễn Duy chân thành như là thú tội. Một sự chân thành đáng quý! Ta nghe như thấm thía nỗi xót xa khi người “tri kỉ” “ đi qua ngõ” mà “như người dưng qua đường”.

Một khoảnh khắc của hiện tại làm nên cái giật mình của con người. Đến đây tứ thơ có chút kịch tính. Tuy cố bình thản nhưng chính nhà thơ đã tự vấn mình:

Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn.

Các từ “thình lình”, “vội”, “đột ngột”cùng với cấu trúc đảo được dùng thật tự nhiên. gợi tả đầy biểu cảm. Trong khoảnh khắc “phòng buyn- đinh tối om”ấy, vầng trăng xuất hiện thật bất ngờ khiến tác giả bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng.

Sự cố “đèn điện tắt” rất bình thường của nền văn minh hiện đại đã thức tỉnh con người trở về với những giá trị cao đẹp, vĩnh hằng. Có lẽ khi mất điện, con người cũng chỉ mở cửa để đón ngọn gió trời chứ không hình dung ra cái gì đó đang đợi mình ngoài kia. Vì thế, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng đã khiến con người bừng tỉnh, nghẹn ngào:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng

Cử chỉ “Ngửa mặt lên nhìn mặt” ta đã gặp bao lần trong thơ. Lý Bạch “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương”, Bác Hồ trong tù đã từng có khoảnh khắc ngắm trăng như thế:

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khán thi gia( Ngắm trăng)

Riêng Nguyễn Duy dùng hai từ “ mặt” thật đắt.  Mặt trăng, mặt người cùng đối diện. Trăng chẳng nói, chẳng trách  nhưng người lính “rưng rưng” xúc động. Những xúc động xót xa, ân hận khiến giọng thơ không thể bình thản được. Khổ thơ đầu chỉ nhắc “sống với đồng/ Với sông rồi với bể” đến đây thành “như là đồng là bể/ Như là sông là rừng”. Giọng kể ấy là giọng hoài niệm. Vầng trăng đánh thức tất cả dậy, từ những kỉ niệm tuổi nhỏ đến những năm tháng cầm súng hành quân đuổi giặc  dưới những cánh rừng. Thì ra những ký ức đẹp đẽ  ấy đã không mất đi, con người không phải hoàn toàn vô tâm đến thế. Ký ức ấy chỉ tạm lắng xuống, con người trong lúc bận rộn đã lãng quên đi nhưng chỉ một tác động nhỏ chúng sẽ sống dậy vẹn nguyên, thậm chí còn đằm sâu hơn, tạo nên vẻ đẹp không gì sánh nỗi của tâm hồn con người.

Khổ thơ cuối, với cấu trúc đối trong từng cặp câu  đã thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu trưng của vầng trăng trong cảm xúc của tác giả :

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình.

Vầng trăng “tròn vành vạnh” mang vẻ đẹp viên mãn, là biểu tượng của sự bao dung, độ lượng, mang sự tròn đầy của tình nghĩa, của thuỷ chung. Vầng trăng ấy đủ để người thơ nhận ra sự vô tình. Ánh trăng “im phăng phắc” không hề trách cứ, lặng lẽ, vô ngôn. Một sự lặng im của tình nghĩa có cả sự nghiêm khắc, sự nghiệm khắc đủ để con người “giật mình”. Cả bài thơ chủ thể trữ tình ẩn sau lời kể, ẩn sau câu chuyện riêng tư của một - con- người. Đến đây không phải ngẫu nhiên tác giả dùng cụm từ “Ta giật mình”Phải chăng người đọc đã hoà vào cảm xúc đầy ăn năn của nhà thơ? Phải chăng cái giật mình cần có của mỗi con người bởi ta cũng đã bao lần để ngày hôm qua trong ngần rơi vào lãng quên? Phải chăng bài thơ không dừng lại ở một câu chuyện riêng tư mà đã trở thành chuyện của bao người. Cái giật mình của nhà thơ cũng là giật mình của hồi ức. Ta đã gặp trong bài “Nghe tắc kè kêu trong thành phố”:...

Tôi giật mình

nghe

trên cành me

Góc đường công Lý cũ

Cái âm thanh của rừng lạc vào thành phố..

Ta có thể hiểu cái giật mình của nhà thơ, cái giật mình của lương tri, lương năng, của tâm hồn con người ở cuối bài thơ thật đáng quý bởi đó là sự thức tỉnh của người thơ và cũng là thức tỉnh mọi người về một thái độ sống. Đó là lời nhắc nhở của vầng trăng đối với con người về quá khứ, về tình nghĩa thuỷ chung, về thái độ tình cảm của con người.

Bài thơ viết theo thể thơ năm chữ, chất tự sự và hình ảnh thơ mộc mạc, giản dị đã góp phần thể hiện tâm hồn nhà thơ với cuộc đời. Lời kể bằng thơ có khi thanh thản, có khi dồn dập sự kiện, tình huống, có khi là đoạn kể hoài niệm, có khi là lời độc thoại đầy tâm trạng. Bài thơ đã thể hiện một chủ đề truyền thống “uống nước nhớ nguồn” bằng một tiếng lòng chân thành của con tim vì thế mà “ánh trăng” có sức lay động và thức tỉnh lòng người.

Đọc bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy viết sau ba năm  đất nước thống nhất ta càng thấm thía với điều mà nhà thơ quan tâm. Phải chăng cách sống đẹp, sống có nghĩa có tình với quá khứ, với hiện tại là điều mà bài thơ đặt ra - vấn đề sẽ luôn luôn mới. Tố Hữu trong bài thơ Việt Bắc đã từng nêu lời nhắn nhủ của núi rừng:

Phố đông còn nhớ bản làng

Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?

Với chúng ta, ánh trăng tình nghĩa của Nguyễn Duy là một ánh sáng thắp lên, soi rọi tâm hồn để mỗi người sống ngày càng đẹp hơn với truyền thống của dân tộc mình.

(Sưu tầm)

Vẻ đẹp người lính trong kháng chiến chống Mĩ

Vẻ đẹp người lính trong hai tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” và “Những ngôi sao xa xôi”


Chiến tranh đã đi qua hơn ba mươi năm. Thế nhưng, những ký ức về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc, ký ức về những con người anh hùng trong một thời đại anh hùng thì vẫn tươi mới, nguyên vẹn mỗi khi ta đối diện từng trang sách trong những tác phẩm văn học của thời kỳ này.

Bằng cảm hứng lãng mạn, kết hợp với khuynh hướng sử thi, văn học Việt Nam trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước đã xây dựng trong văn thơ tượng đài những chiến sĩ anh hùng. Họ là những “Thạch Sanh của thế kỷ XX”. Chiến công của họ đẹp và phi thường như huyền thoại.

Có hai tác phẩm được coi là tiêu biểu cho cảm hứng ngợi ca người chiến sĩ anh hùng của văn học thời kỳ này, đó là “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật và “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê. Mỗi tác phẩm là một bức tranh đẹp về hình tượng người chiến sĩ điển hình cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh quang vinh.

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được nhà thơ Phạm Tiến Duật sáng tác năm 1969, rút từ tập thơ “Vầng trăng, quầng lửa” là một bài thơ độc đáo trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1969-1970. Bài thơ khắc họa vẻ đẹp người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn ác liệt. Vẻ đẹp độc đáo được thể hiện ngay trong tên gọi của bài thơ. Đó là sự thống nhất giữa hai sự vật tưởng như tương phản gợi ấn tượng về chất thơ lãng mạn và sự trần trụi khốc liệt.

Khai thác đề tài chiến tranh, tác giả không chỉ tô đậm tính chất ác liệt, tàn khốc nhằm làm nổi bật sự phi thường của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam mà Phạm Tiến Duật đã có cách nhìn, cách cảm khá mới lạ và thú vị. Từ trong sự tàn khốc ấy, chất thơ vẫn cứ tuôn trào !
Câu thơ mở đầu như một lời tự sự xen lẫn miêu tả:

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Nó có tác dụng vừa lý giải sự bất thường của hình ảnh chiếc xe độc đáo “không có kính” vừa tô đậm sự ác liệt của chiến trường “bom giật, bom rung…” Đây là hình ảnh vừa lạ vừa chân thực. Lạ là vì trong thơ, người ta thường chọn những sự vật hoàn thiện, hoàn mỹ để miêu tả nhằm tạo thiện cảm với người cảm nhận nó. Với những chiếc xe cũng vậy! Phải sang trọng, bóng loáng chứ sao lại trần trụi, méo mó, biến dạng thế này !

Không có kính rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước

Nhưng đấy là sự thật. Không phải một chiếc như thế mà tác giả nhìn thấy cả một tiểu đội xe như thế! Bởi vì thời điểm mà bài thơ ra đời có thể nói là ác liệt nhất trong thập niên 60 của thế kỷ XX.

Đường Trường Sơn – nơi vận chuyển vũ khí lương thực vào chi viện Miền Nam – những năm tháng này là “túi bom, chảo lửa”. Và trên nền hiện thực tàn khốc ấy đã xuất hiện hình ảnh đẹp đẽ, phi thường của người chiến sĩ lái xe. Làm chủ những phương tiện ấy, người chiến sĩ không hề nản chí hay run sợ mà trái lại, lại bình tĩnh đến lạ thường:

Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Vẻ đẹp kiêu hùng được toát ra từ tư thế ngồi “ung dung” đến cái nhìn “nhìn thẳng”. Các từ láy “ung dung” cùng với nhịp thơ nhanh, đều, dứt khoát 2/2/2 diễn tả vẻ đẹp khoan thai, thản nhiên, tự tin của người chiến sĩ. Điệp từ “nhìn” gợi lên sự nối tiếp liên tục của những hình ảnh chiến trường như một đoạn phim đang quay chậm:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái

Các thủ pháp nhân hóa, so sánh, ẩn dụ đã góp phần làm cho hình ảnh thơ thêm sinh động. Tưởng rằng làm chủ những chiếc xe không kính, người chiến sĩ chỉ thấy những khó khăn chồng chất khó khăn. Nhưng không! Nó đã làm tăng những cảm giác mới mẻ mà chỉ có người chiến sĩ khi ngồi trên những chiếc xe như thế mới cảm nhận được một cách rõ ràng, mãnh liệt… Hình ảnh “gió vào xoa mắt đắng”, “con đường chạy thẳng vào tim” tạo ấn tượng độc đáo. Chiếc xe như đang trôi bồng bềnh trong thiên nhiên hoang dã của núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Chất thơ cùng với vẻ đẹp lãng mạn toát lên từ đó. Nhưng có thể nói đẹp nhất là thái độ, tinh thần dũng cảm bất chấp gian khổ để chiến đấu và chiến thắng:

Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Vẻ đẹp được toát lên từ lời thơ giản dị, giàu “chất lính”, hình ảnh thơ mộc mạc. Điệp ngữ “ừ thì”, “chưa cần” vang lên như một lời thách thức, chủ động chấp nhận gian khổ. Một giọng thơ tự tin, ngang tàng. Một tiếng cười “ha ha” hồn nhiên. Tất cả đã toát lên vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe.

Đời sống chiến trường gian khổ là thế. Sự sống và cái chết ở đây chỉ là gang tấc. Thế nhưng tình yêu thương đồng chí, đồng đội vẫn tỏa sáng lạ thường.

Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Có thể nói rằng, khai thác chất liệu nghệ thuật của đời sống chiến tranh, Phạm Tiến Duật đã rất thành công trong việc khắc họa người chiến sĩ lái xe Trường Sơn bằng những hình ảnh, chi tiết vừa chân thực, gân guốc, mộc mạc vừa lãng mạn nên thơ.

“Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

“Trái tim” ở đây chính là trái tim chứa chan tình yêu Tổ quốc đã giúp người chiến sĩ lái xe làm nên những kỳ tích phi thường. Vẻ đẹp hào hùng của họ tỏa sáng cả bài thơ; đủ làm sống lại trong lòng chúng ta một thời oanh liệt của anh bộ đội cụ Hồ. Chất anh hùng ca dào dạt tạo nên vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Cùng với chủ đề ngợi ca vẻ đẹp người chiến sĩ, nhưng khác với nhà thơ Phạm Tiến Duật trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, nhà văn Lê Minh Khuê trong “Những ngôi sao xa xôi” đã đi tìm và khai thác vẻ đẹp ấy qua hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong.

Truyện viết về cuộc sống và chiến đấu vô cùng gian khổ của những nữ thanh niên xung phong – những cô gái “Ba sẵn sàng” trên tuyến đường Trường Sơn chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc. Mặc dù cốt truyện đơn giản, nhưng tác giả đã rất thành công trong việc khắc họa vẻ đẹp người nữ chiến sĩ qua miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo và tinh tế.

Nổi bật trong truyện là ba gương mặt đẹp của tổ trinh sát mặt đường. Họ có những nét tính cách chung của người nữ thanh niên xung phong Trường Sơn thời chống Mỹ nhưng ở mỗi nhân vật lại lấp lánh vẻ đẹp riêng. Hoàn cảnh sống và chiến đấu nơi tuyến lửa đã gắn bó họ thành một khối đoàn kết, yêu thương, gan dạ và dũng cảm.

Họ đóng quân trong một cái hang giữa trọng điểm “túi bom, chảo lửa” trên tuyến đường Trường Sơn. Công việc hàng ngày của họ là đếm bom, rồi lao ra trọng điểm sau những trận bom để đo khối lượng đất đá cần phải san lấp, đánh dấu vị trí bom rơi và phá những quả bom chưa nổ. Một khối lượng công việc vừa đồ sộ vừa nguy hiểm. Cái chết rình rập họ từng phút, từng giờ. “Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang âm ỉ xa dần, thần kinh căng như chảo, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng chung quanh còn nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ…”. Họ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, dù chỉ có ba người (lại là ba phụ nữ); họ phân công nhau phá bằng hết những quả bom chưa nổ mà không cần đến sự trợ giúp của đơn vị “như mọi lần chúng tôi sẽ giải quyết hết”.

Trong chiến đấu họ gan dạ, dũng cảm, quyết đoán là thế, nhưng trong cuộc sống họ là những cô gái trẻ trung, yêu đời, dễ rung cảm, lắm ước mơ. Là phụ nữ, họ rất thích cái đẹp và thích làm đẹp cho cuộc sống.

Nếu như nhân vật Nho “mát mẻ như một que kem trắng”, thích ăn kẹo như một đứa trẻ, giàu mơ ước (Nho ước mơ trở thành công nhân nhà máy điện và trở thành cầu thủ bóng chuyền của nhà máy) thì nhân vật chị Thao lại dạn dày, từng trải trong cuộc sống; thích thêu thùa; thích làm đẹp “tỉa đôi lông mày của mình, tỉa nhỏ như cái tăm” nhưng trong công việc thì “ai cũng gờm chị: cương quyết, táo bạo” (dũng cảm, táo bạo nhưng lại sợ nhìn thấy máu chảy).

Còn Phương Định, nhân vật chính của truyện là con người hồn nhiên, nhạy cảm, lãng mạn và mơ mộng. Là con gái Thủ đô, cô thường sống với kỷ niệm quê hương. Nơi ấy có một thời học sinh trong trắng, hồn nhiên, vô tư. Nơi ấy có mẹ, có căn gác nhỏ của cô… Những kỷ niệm yêu dấu ấy là liều thuốc tinh thần quý giá động viên cô, tiếp thêm sức mạnh để cô sống đẹp và chiến đấu anh dũng nơi tuyến lửa.

Ở chiến trường, Phương Định luôn dành cho đồng đội tình yêu thương thắm thiết. Cô yêu quý đồng đội trong “tổ trinh sát mặt đường” của cô và cảm phục các anh bộ đội “những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ”. Trong mắt cô, đó là những “người đẹp nhất, thông minh nhất”. Phương Định rất nhạy cảm. Cô biết mình có “cái nhìn sao mà xa xăm” như lời các anh lái xe nhận xét nhưng cô lại không biểu lộ tình cảm và thích kín đáo giữa đám đông. Cô thích nhạc và mê ca hát. Thậm chí tự đặt lời theo một điệu nhạc nào đó và hát để thấy mình rất buồn cười v.v… Thế nhưng với Phương Định, sự nhạy cảm về tâm hồn có lẽ được biểu hiện tinh tế nhất ở chỗ, chỉ một cơn mưa đá bất ngờ vụt qua trên cao điểm, cũng đủ đánh thức trong cô những ký ức về quê hương, gia đình, khơi dậy trong cô khát khao sum họp đến cháy bỏng.

Một cô gái Hà Nội chính gốc, lãng mạn và mơ mộng như thế, nhưng trong chiến đấu lại dũng cảm, gan dạ đến tuyệt vời. Một mình phá bom trên đồi “quang cảnh vắng lặng đến dễ sợ” nhưng tinh thần cô không hề nao núng. Đáng lẽ cô phải “đi khom” nhưng sợ mấy anh chiến sĩ “có cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt” nhìn thấy, nên cô “cứ đàng hoàng mà bước tới”.

Khi ở bên quả bom, tử thần có thể cướp đi mạng sống của cô bất cứ lúc nào, nhưng cô vẫn bình tĩnh thao tác một cách chính xác và chạy đua với thời gian để vượt qua cái chết.

“Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Những cảm giác tinh tế ấy không chỉ là sự nhạy cảm mà còn là kinh nghiệm của sau bao nhiêu lần phá bom ở tuyến lửa và chỉ những người nữ thanh niên xung phong dạn dày như Phương Định, Nho, chị Thao mới có được !

Với tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi”, ngòi bút của Lê Minh Khuê đã miêu tả sinh động, chân thực tâm lý nhân vật; làm hiện lên một thế giới nội tâm rất phong phú nhưng không phức tạp, rất đời thường, giản dị nhưng vô cùng trong sáng và cao thượng của những nữ thanh niên xung phong.

Vẻ đẹp của những “cô gái mở đường” Trường Sơn cùng với vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe trong các tác phẩm văn học chống Mỹ nói chung và trong các tác phẩm của Phạm Tiến Duật và Lê Minh Khuê nói riêng đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về ý chí, tâm hồn và nhân cách của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

 (Sưu tầm)

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua các văn bản ngữ văn lớp 9

Cảm nhận của em về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua một số tác phẩm thơ văn hiện đại đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 9.

Gợi ý:
I- Dân tộc Việt Nam giàu lòng yêu nước, căm thù giặc. “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Trong chiến đấu, phụ nữ Việt Nam “Anh hùng , bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Trong thơ văn , hình ảnh những người mẹ , người chị thân thương của mỗi chúng ta được mieu tả thật chân thức, đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong trái tim bao thế hệ độc giả.
II- Trong mỗi gia đình Viẹt Nam, hình ảnh người bà, người mẹ, người chị...là những hình ảnh trở nên gần gũi, yêu thương nhất đối với con cháu.
+Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt viết về người bà trong gia đình, với tình thương và đức hy sinh cao cả.Bài thơ đã cho thấy tình yêu quê hương đất nước chan hòa với bao kỷ niệm tuổi thơ vô cùng thiết tha về người bà kính yêu, người bà đôn hậu và tần tảo sớm khuya sáng bừng lên như một ngọn lửa thần kỳ và thiêng liêng. -Hình ảnh đầu tiên hiện lên trong trí nhớ của tác giả là hình ảnh bếp lửa ở một làng quê Việt Nam từ thời thơ ấu:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Từ hình ảnh bếp lửa liên tưởng tự nhiên đến người nhóm lửa, nhóm bếp - đến nỗi nhớ, tình thương với bà của đứa cháu đang ở xa:
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
 “Biết mấy nắng mưa” là một cách nói ẩn dụ gợi ra phần nào cuộc đời vất vả lo toan của bà.
Một bếp lửa và một làn sương sớm. Tiếng tu hú và giọng kể chuyện của bà. Rồi những ngày cha mẹ đi công tác xa. Rồi cháu làm cháu học với bà....:
Mẹ cùng cha bận công tác không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm , bà chăm cháu học
                                                                                                                                     (Bằng Việt- Bếp lửa)
cháu ở cùng bà”, “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la , sự chăm chút của bà đối với cháu nhỏ. Trong nhiều gia đình Việt Nam, do nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò của người bà đã thay thế vai trò của người mẹ hiền.
Sống trong những năm chiến tranh, khi “giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi” được sự “đỡ đần” của bà con hàng xóm,hai bà cháu mới dựng lại được túp lều tranh, thế nhưng bà vẫn “vững lòng” trước mọi tai họa thử thách:
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Lời dặn trực tiếp của bà khi cháu viết thư cho bố không chỉ giúp ta hình dung giọng nói, tiếng nói, tình cảm và suy nghĩ của bà mà còn làm sáng lên phẩm chất của người bà, người mẹ Việt Nam yêu nước, đầy lòng hy sinh, kiên trì nhóm lửa, giữ lửa
-Từ “bếp lửa”, đứa cháu nghĩ về “ngọn lửa”.Một hình tượng rất tráng lệ. “Bếp lửa bà nhen” sớm sớm chiều chiều đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình thương “luôn ủ sẵn”, ngọn lửa của niềm tin vô cùng “dai dẳng” bền bỉ và bất diệt. Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian:”rồi sớm rồi chiều”, các động từ: “nhen”, “ủ sẵn” , “chứa” (chứa niềm tin dai dẳng) đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời loạn lạc:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
         Bà thức khuya dậy sớm “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”, bà nhóm lửa cho thơm mùi khoai sắn, và:
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
                                                                                                                     (Bằng Việt- Bếp lửa)

         Ngọn lửa như một biểu tượng của tình thương vô cùng ấm áp . Hình ảnh  người bà giàu yêu thương và hình ảnh ngọn lửa cứ trở đi, trở lại trong bài thơ, song mỗi lần no lại mang một ý nghĩa khác nhau.Khi thì nhóm bếp lửa ấp iu, nông đượm để sưởi ấm cho bà cháu qua cái lạnh của sương sớm; đến câu tiếp theo thì đã vừa nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như còn đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình thương vô hạn của bà. Đến câu tiếp theo thì lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới là tình cảm xóm làng đoàn kết, gắn bó, chia ngọt sẻ bùi và đến câu “Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”thì hoàn toàn mang nghĩa trừu tượng: nhóm dậy tâm tình tuổi nhỏ, nuôi dưỡng và làm bừng sáng những ước mơ,những khát vọng của đàn cháu nhỏ.Bếp lửa bà đã nhóm lên ngọn lửa của tình yêu thương ấm áp.
        Bà thương cháu bao nhiêu thì cháu lại kính yêu và biết ơn bà bấy nhiêu:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà , niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
Cuộc đời mới thật vui, thật đẹp,đã “có ngọn  khói trăm tàu” đã “có ngọn lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả”, nhưng cháu vẫn không nguôi nhớ bà, nhớ bếp lửa gia đình thương yêu. Không gian và thời gian xa cách, và dù cuộc đời có đổi thay, nhưng tình thương nhớ bà vẫn thiết tha mãnh liệt.
-“Bếp lửa” là một bài thơ hay và độc đáo. Bài thơ không chỉ nói về bà, về tình bà cháu mà còn có ý nghĩa triết lý thầm kín; Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có lúc tỏa sáng, nâng đỡ con người suốt cả cuộc đời . Tình yêu thương và lòng biết ơn bà chính là một biểu hiện của tình yêu thương , gắn bó với gia đình, quê hương và đó cũng là khởi đầu của tình người, tình yêu nước.
+ Sau hình ảnh người bà là hình ảnh người mẹ. Viết về người mẹ Việt Nam thời chống Mĩ , bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm là một bài thơ độc đáo và hay. Bà mẹ được nói đến là bà mẹ Tà-ôi có một tình thương mênh mông:  thương con, thương làng đói, thương bộ đội ,thương đất nước.
     Bài thơ có 3 khúc ru được sáng tạo theo âm điệu dân ca, điệu ru con của đồng bào Tà-ôi trên miền núi Trị Thiên. Ba khúc hát ru đều mở đầu bằng hai câu:
Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
và kết thúc bằng lời ru trực tiếp của người mẹ:
Ngủ ngoan A Kay ơi, ngủ ngoan A Kay hỡi.
đã thể hiện một cách đặc sắc tình cảm tha thiết , trìu mến của người mẹ giành cho con.
   Hình ảnh của người mẹ được gắn với hoàn cảnh và công việc cụ thể qua từng khúc hát.
   + Khúc hát thứ nhất người mẹ giã gạo nuôi bộ đội:
Nhịp chày nghiêng và giấc ngủ em nghiêng
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi
Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
Mẹ vất vả nên em vất vả theo. Mồ hôi ướt đẫm áo em nhưng bù lại em được say giấc nồng trên lưng mẹ và trong lời ru của mẹ:
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
       Trong lời ru của mẹ ta thấy chứa chan tình yêu con, tình yêu bộ đội, yêu cách mạng và kháng chiến. Qua khúc hát ta thấy ước mơ của mẹ thật giản dị và cảm động biết bao: Mẹ ước mơ con lớn “Vung chày lún sân
     + Khúc hát thứ hai, người mẹ tỉa bắp trên núi, nuôi làng nuôi bộ đội:
Lưng núi thì to lưng mẹ nhỏ
     Hình ảnh đối lập gợi sự nhỏ bé của mẹ giữa rừng núi mênh mông heo hút, diễn tả sự chịu đựng gian khổ của người mẹ Tà-ôi. Ở khúc hát này, trong lời ru của mẹ ta thấy tình yêu con, tình yêu làng tha thiết và mẹ ước mơ con của mẹ lớn sẽ “Phát mười ka lưi...”
      +Khúc hát thứ ba:
Mẹ đi chuyển lán, mẹ đi đạp rừng
      Mẹ trực tiếp ra trận. “Mẹ đưa em đi để giành trận cuối”. Mẹ cùng em ra chiến trường , trực tiếp tham gia chiến đấu cùng “Anh trai”, “Chị gái” . Giờ đây mẹ ước mơ được thấy Bác Hồ, ước mơ: “Mai sau con lớn làm người tự do”.
     Hình ảnh người mẹ hiện lên trong mỗi khúc hát vừa có sự lặp lại, vừa có sự phát triển. Không gian làm việc của mẹ càng ngày càng mở rộng, từ giã gạo ở nhà đến phát rẫy trên nương và cuối cùng mẹ ra chiến trường. Trong mỗi khúc hát ta thấy lúc đầu mẹ là mẹ chiến sĩ, về sau chính mẹ là chiến sĩ.
     Những lời ru của mẹ - “tim hát thành lời” đó là tình cảm của mẹ, là khát khao ước vọng của mẹ đối với con  mình. Nhưng ở đây tình mẫu tử thiêng liêng không phải chỉ dành cho một người con duy nhất của mẹ , tình thương đó còn dành cho bộ đội, cho dân làng và cho đất nước. Hiện tại, tương lai của con  đều gắn  liền với dân làng với cuộc kháng chiến của đất nước, dân tộc. Hình ảnh mẹ trong bài thơ không chỉ mang ý nghĩa cụ thể về một người mẹ Tà-ôi mà còn mang ý nghĩa khái quát. Trong cuộc kháng chiến thần thánh ấy có biết bao người như mẹ . Những người mẹ Việt Nam yêu con, yêu nước, sẵn sàng cống hiến , sẵn sàng tham gia vào cuộc kháng chiến vĩ đại vì độc lập tự do của dân tộc.
+ Có những người bà, người mẹ anh hùng  nên mới có những đàn con cháu anh hùng, có những thế hệ anh hùng. Cô giao liên trong truyện “Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang sáng”đã đi tiếp con đường chiến đấu gian khổ, vô cùng oanh liệt vẻ vang của cha anh dào dạt sức sống trẻ trung và dũng mãnh. Cô lái xuồng giỏi, chỉ huy giỏi, có giác quan tinh tế kì lạ. Cô phân biệt chính xác  mùi lính Mĩ và mùi lính ngụy, ánh sao đêm và đèn máy bay địch, tiếng trực thăng ở xa và tiếng xuồng máy ở gần. Cô mưu trí và dũng cảm lạ thường. Lọt vào phục kích của giặc, cô đã lập mưu đánh lừa chúng, an toàn vượt qua đường nguy hiểm. Cô gái ương ngạnh ngày nào đã trở thành cô giao liên tài ba, dũng cảm, đã làm cho người cán bộ già (ông Sáu) như thức trong giấc mơ.
+ “Những ngôi sao xa xôi” là tác phẩm nổi tiếng của Lê minh Khuê viết về những tấm gương anh hùng của các cô thanh niên xung phong trên con đường chiến lược Trường Sơn đánh Mĩ.Truyện đã ghi lại một cách chân thực chiến tích thầm lặng của tổ trinh sát mặt đường. Trọng điểm đang chìm trong mưa bom bão lửa, cảnh tượng chiến trường vắng lặng đến phát sợ. Cảnh vật bị hủy diệt: cây xơ xác, đất nóng, khói đen vật vờ từng cụm trong không trung. Phương Định dũng cảm và bình tĩnh tiến đến gần quả bom. Thần chết đang đợi chờ! Hai mươi phút trôi qua, tiếng còi chị Thao rúc lên, Định cẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngòi vào dây mìn. Cô khỏa đất rồi chạy nhanh về chỗ nấp....Bom nổ, mảnh bom xé không khí, nổ váng óc....Nguy hiểm căng thẳng không thể nào kể xiết....Nho bị thương. Bom nổ hầm sập. Chị Thao và Định phải moi đất bế Nho lên. Máu tua ra ngấm vào đất. Chị Thao nghẹn ngào.Định rửa vết thương cho Nho, tiêm thuốc cho Nho, pha sữa cho Nho... Rồi chị Thao lại giục Phương Định hát. Đó là cuộc sống chiến đấu thường nhật của họ. Tác giả đã tái hiện cảnh phá bom vô cùng nguy hiểm, dựng lên một tượng đài về khí phách anh hùng lẫm liệt của tổ trinh sát mặt đường.Chiến công thầm lặng của họ bất tử với năm tháng và lòng người.
      Qua nhân vật Phương Định và các cô gái thanh niên xung phong, Lê Minh Khuê đã gợi cho người đọc hình dung được phẩm chất tốt đẹp của thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ . Họ phải sống và chiến đấu rất gian khổ, hiểm nguy. Đó là những chàng trai, cô gái trẻ, dũng cảm, hiến dâng cả cuộc đời thanh xuân cho đất nước, sẵn sàng hy sinh tính mạng để hoàn thành nhiệm vụ . Họ có một thế giới nội tâm phong phú, đa dạng và rất trong sáng . Đặc biệt , những hình ảnh cao đẹp của các cô thanh niên xung phong trong truyện “Những ngôi sao xa xôi” tiêu biểu cho dân tộc Việt Nam , cho thế hệ trẻ trong những năm tháng hào hùng của Tổ quốc.
        Truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã làm sống lại trong lòng ta hình ảnh tuyệt đẹp và những chiến công phi thường của tổ trinh sát mặt đường của Định , Nho , của chị Thao, của hàng ngàn, hàng vạn cô thanh niên xung phong thời chống Mĩ . Chiến công thầm lặng của Phương Định và đồng đội là bài ca anh hùng.
      Chiến tranh đã đi qua, hôm nay đọc truyện “Những ngôi sao xa xôi”, ta như được sống lại những năm tháng hào hùng của đất nước. Những Phương Định gần xa vẫn tỏa sáng hồn ta với bao ngưỡng mộ
III- Trên đây là một số gương mặt , tên tuổi, hình ảnh tuyệt đẹp về người phụ nữ Việt Nam . Đúng như Bác Hồ đã nói : “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ” . Nhà thơ Huy Cận trong bài “Ca ngợi người phụ nữ Việt Nam” có viết:
Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời nên cũng năng cho thơ

 (St)